Ngành điện ‘khát’ vốn: Cho vay liên quan sản xuất phân phối điện mới chiếm 3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, Việt Nam cần từ 399-523 tỷ USD để đầu tư nguồn điện và lưới điện trong giai đoạn 2031-2050. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng mạnh bởi công nghiệp hóa, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, bài toán huy động vốn đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với quá trình phát triển hạ tầng năng lượng thông minh.

Đầu tư cho chuyển dịch năng lượng tăng mạnh trên toàn cầu

Việt Nam đang đặt mục tiêu trở thành quốc gia đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và hướng tới nhóm nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Trong tiến trình này, hạ tầng năng lượng được xem là một trong những nền tảng quan trọng để đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và quá trình công nghiệp hóa.

Phát biểu tại diễn đàn “Phát triển hạ tầng năng lượng thông minh” tổ chức sáng 24/6, các chuyên gia cho biết, quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ tại nhiều nền kinh tế trên thế giới. Tổng vốn đầu tư toàn cầu cho chuyển dịch năng lượng trong năm 2025 đạt khoảng 2.300 tỷ USD, cao gấp đôi mức đầu tư vào nhiên liệu hóa thạch. Hiện năng lượng tái tạo và điện hạt nhân chiếm khoảng 42% tổng sản lượng điện toàn cầu.

 Toàn cảnh diễn đàn. Ảnh: M.T.

Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, dòng vốn đầu tư cho chuyển đổi năng lượng hiện vẫn tập trung chủ yếu tại Mỹ, châu Âu và Trung Quốc, trong khi nhiều quốc gia đang phát triển gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn dài hạn.

Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi xanh toàn cầu vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức như hạn chế về hạ tầng lưới điện, sự phân tán của các nguồn vốn đầu tư và xu hướng gia tăng các biện pháp bảo hộ tại một số nền kinh tế.

Áp lực lên hệ thống năng lượng cũng ngày càng lớn khi nhu cầu điện tăng nhanh dưới tác động của quá trình điện khí hóa, sự phát triển của xe điện, trí tuệ nhân tạo và các trung tâm dữ liệu. Trong bối cảnh đó, nhiều chuyên gia cho rằng trọng tâm quản lý đang dần chuyển từ việc gia tăng công suất nguồn điện sang nâng cao khả năng điều tiết và vận hành linh hoạt của toàn hệ thống.

Việc cấp tín dụng cho ngành điện đối mặt nhiều khó khăn

Ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tổng nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án nguồn điện và lưới điện truyền tải trong giai đoạn 2021-2030 ước khoảng 134,7 tỷ USD, trong đó nguồn điện cần khoảng 119,8 tỷ USD và lưới điện khoảng 14,9 tỷ USD.

 Ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) phát biểu tại Diễn đàn. Ảnh: VOV.

Bước sang giai đoạn 2031-2050, nhu cầu vốn được dự báo tăng lên từ 399,2 tỷ USD đến 523,1 tỷ USD. Bên cạnh mục tiêu bảo đảm đủ điện cho nền kinh tế, Việt Nam còn phải thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính, phát triển năng lượng tái tạo và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Điều này kéo theo nhu cầu đầu tư rất lớn cho các dự án điện gió, điện mặt trời, điện khí LNG, hệ thống lưu trữ năng lượng và lưới điện thông minh.

Theo ông Nguyễn Xuân Bắc, nguồn vốn tín dụng hiện vẫn đóng vai trò quan trọng đối với đầu tư phát triển hạ tầng điện, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Tuy nhiên, dư nợ tín dụng dành cho lĩnh vực sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí hiện chỉ chiếm khoảng 3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Việc cấp tín dụng cho ngành điện cũng đang đối mặt nhiều khó khăn. Các dự án nguồn điện và lưới điện truyền tải thường có quy mô đầu tư rất lớn và thời gian hoàn vốn kéo dài, tạo áp lực đáng kể đối với các ngân hàng thương mại về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn cũng như giới hạn cấp tín dụng cho một khách hàng hoặc nhóm khách hàng liên quan.

Bên cạnh đó, nhiều dự án điện còn gặp vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, cơ chế giá điện và các vấn đề pháp lý liên quan, làm gia tăng rủi ro tín dụng. Đối với các dự án năng lượng tái tạo, việc hoàn thiện cơ chế giá mua điện, hợp đồng mua bán điện và khả năng giải tỏa công suất vẫn là những yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến khả năng huy động vốn.

Khơi thông dòng vốn cho hạ tầng năng lượng

Để phát huy vai trò của nguồn vốn tín dụng trong phát triển hạ tầng điện, ông Nguyễn Xuân Bắc cho rằng cần triển khai đồng bộ các giải pháp trên ba trụ cột gồm thể chế chính sách, thị trường vốn và năng lực hấp thụ vốn của doanh nghiệp.

Trước hết, cần đẩy nhanh tiến độ triển khai Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đồng thời xây dựng cơ chế giá điện minh bạch, hài hòa lợi ích giữa các bên nhằm tạo môi trường đầu tư ổn định và nâng cao niềm tin của các tổ chức tín dụng đối với các dự án dài hạn.

Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các nguồn vốn thông qua phát triển thị trường trái phiếu xanh, trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư hạ tầng và thúc đẩy mô hình đồng tài trợ giữa các ngân hàng thương mại. Việc ưu tiên dòng vốn tín dụng xanh cho các dự án năng lượng sạch và lưới điện thông minh cũng được xem là một trong những giải pháp quan trọng.

Đồng thời, cần tăng cường phối hợp liên ngành để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc đối với các dự án năng lượng trọng điểm. Các doanh nghiệp điện lực cũng cần nâng cao năng lực tài chính thông qua tăng vốn chủ sở hữu, minh bạch hóa quản trị và kiểm soát tốt rủi ro dự án.

Dưới góc độ nhà đầu tư, ông Lê Anh Tuấn, Giám đốc Phát triển kinh doanh của GreenYellow, cho rằng vốn, công nghệ và chính sách là ba yếu tố quan trọng đối với quá trình phát triển năng lượng xanh tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, tính ổn định và nhất quán của chính sách mới là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định đầu tư.

Theo ông Tuấn, nguồn vốn cho các dự án xanh trên thị trường quốc tế hiện không thiếu, trong khi công nghệ năng lượng mặt trời, lưu trữ năng lượng hay quản lý tiêu thụ điện đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, do các dự án năng lượng thường có vòng đời đầu tư từ 15-25 năm nên nhà đầu tư cần một môi trường chính sách minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo dài hạn để đánh giá hiệu quả tài chính.

Khi khung pháp lý rõ ràng, cơ chế giá điện minh bạch và thủ tục triển khai được đơn giản hóa, dòng vốn và công nghệ sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để chảy vào thị trường Việt Nam. Ngược lại, những thay đổi chính sách thiếu nhất quán có thể làm gia tăng chi phí rủi ro, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và khả năng huy động nguồn lực cho quá trình chuyển dịch năng lượng.

Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tiếp tục gia tăng cùng quá trình chuyển đổi số và tăng trưởng xanh, việc phát triển hạ tầng năng lượng thông minh không chỉ là yêu cầu về công nghệ mà còn là bài toán huy động nguồn lực dài hạn. Hoàn thiện thể chế, bảo đảm tính ổn định của chính sách và đa dạng hóa các kênh vốn được xem là những yếu tố then chốt để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển năng lượng trong những thập niên tới.