Hội DNTNVN đề xuất nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn, tái chiết khấu chuyên biệt với ngân hàng tích cực cho vay DNNVV

Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam đề xuất Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn, tái chiết khấu chuyên biệt dành riêng cho các NHTM tích cực giải ngân cho khối DNNVV, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và xuất khẩu. Lãi suất tái cấp vốn ưu đãi này sẽ được chuyển hóa trực tiếp thành mức giảm lãi suất cho vay thực tế cho nhóm SME.

Ảnh minh họa.

Trong công tác phối hợp chuẩn bị cho Hội nghị Đẩy mạnh triển khai các giải pháp tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) do Ngân hàng Nhà nước triển khai, Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam đã có một số kiến nghị liên quan đến giải pháp khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp SME.

Tỷ lệ doanh nghiệp SME tiếp cận được vốn vay ngân hàng chỉ ở mức 8,8%

Theo văn bản gửi đến NHNN, dựa trên các báo cáo thực tế mới nhất tính đến tháng 8/2026 và khảo sát diện rộng của các tổ chức trung gian, nghiên cứu; Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam đánh giá bức tranh tài chính và khả năng tiếp cận vốn của khối doanh nghiệp SME đang còn một số điểm nghẽn mang tính cấu trúc.

Thứ nhất, đây là nhóm chiếm tỷ trọng lớn (900.000 doanh nghiệp, chiếm 94% tổng số doanh nghiệp hoạt động, sử dụng 6,6 triệu lao động) nhưng đóng góp và sức chống chịu còn hạn chế. Theo báo cáo, khu vực này đóng góp chưa đến 20% tổng doanh thu toàn xã hội và chỉ chiếm khoảng 8% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Sức chống chịu của khối này đặc biệt còn hạn chế trước biến động thị trường: tỷ lệ đóng cửa của doanh nghiệp siêu nhỏ năm vừa qua lên tới 22,7%, nhóm nhỏ và vừa là 12,7%.

Các doanh nghiệp SME cũng phải đối diện với khoảng trống tiếp cận tín dụng lớn. Số liệu từ Báo cáo Doanh nghiệp SME năm 2026 của FiinGroup chỉ ra rằng mặc dù Chính phủ và NHNN quyết liệt thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ doanh nghiệp SME tiếp cận được vốn vay ngân hàng chỉ ở mức 8,8% (tương đương khoảng 80.000 doanh nghiệp đang có dư nợ tín dụng). Tỷ lệ này giảm 0,5% so với năm 2025 và thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ tiếp cận vốn của khối doanh nghiệp lớn (đạt 47,1%).

Bên cạnh đó là rào cản ‘nút thắt’ tài sản thế chấp. Báo cáo PCI cho biết có tới 93,5% các khoản vay tại Việt Nam hiện nay yêu cầu phải có tài sản thế chấp, vượt trội so với khu vực. Trong khi đó, nhiều SME thiếu bất động sản có hồ sơ pháp lý đầy đủ hoặc tài sản đã được dùng để bảo đảm nghĩa vụ khác. Việc nhận tài sản động sản và quyền tài sản như khoản phải thu, quyền phát sinh từ hợp đồng, hàng tồn kho còn hạn chế do cơ chế định giá, kiểm soát và xử lý tài sản chưa đồng bộ..

Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank Enterprise Surveys), 21,2% doanh nghiệp Việt Nam xác định tiếp cận tín dụng là rào cản lớn nhất đối với hoạt động sản xuất kinh doanh – tỷ lệ này cao hơn nhiều so với Malaysia (15,6%) và Thái Lan (7,7%).

Ngoài ra, theo khảo sát với các hội viên, báo cáo Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam cũng cho biết thực trạng hiệu quả của các định chế hỗ trợ còn hạn chế. Khả năng các quỹ hỗ trợ như Quỹ Phát triển DNNVV, Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV tại các địa phương (hoạt động theo Nghị định 34/2018/NĐ-CP) còn thấp. Quy trình thẩm định, điều kiện bảo lãnh và yêu cầu về tài sản bảo đảm trong một số trường hợp còn trùng lặp với quy trình của tổ chức cho vay, làm gia tăng thời gian và chi phí tiếp cận vốn của doanh nghiệp…

5 điểm nghẽn hạn chế năng lực tiếp cận vốn

Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam đánh giá, thực trạng hạn chế về năng lực tiếp cận vốn, trước hết là vốn tín dụng ngân hàng, xuất phát từ một số điểm nghẽn chủ yếu.

Thứ nhất là mâu thuẫn nội tại từ phía các ngân hàng thương mại giữa hiệu quả kinh doanh và nhu cầu hỗ trợ doanh nghiệp SME.

Các ngân hàng thương mại hoạt động theo nguyên tắc thị trường, tuân thủ nghiêm ngặt các tỷ lệ an toàn vốn tín dụng, chất lượng tín dụng. NHTM không thể hạ chuẩn cho vay vì khối tín dụng phải chịu trách nhiệm pháp lý cá nhân nếu phát sinh nợ xấu. Chi phí thẩm định, quản lý một khoản vay nhỏ của doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) tốn kém nhân lực tương đương một khoản vay lớn nhưng hiệu quả kinh doanh thường thấp hơn, rủi ro cao hơn.

Thứ hai là hạn chế từ phía doanh nghiệp. Một bộ phận SME vận hành theo mô hình tinh gọn nhưng năng lực quản trị và tính minh bạch còn hạn chế tỷ lệ giao dịch tiền mặt cao; dòng tiền cá nhân và dòng tiền doanh nghiệp chưa được tách bạch.

Đặc biệt, “bẫy tự thân” từ việc chủ động tối thiểu hóa doanh thu, lợi nhuận trên báo cáo tài chính để giảm nghĩa vụ nộp thuế đã vô tình hạn chế năng lực chứng minh dòng tiền trả nợ của doanh nghiệp khi nộp hồ sơ vay vốn ngân hàng.

Một thách thức khác là điểm nghẽn về “bất đối xứng thông tin” giữa bên vay và bên cho vay. Do ngân hàng không thể tin tưởng số liệu tài chính tự lập của doanh nghiệp không đại chúng, còn doanh nghiệp không thể đáp ứng các tiêu chuẩn thẩm định khắt khe, hai bên rơi vào vòng lặp bế tắc. Hệ quả là ngân hàng buộc phải sử dụng tài sản thế chấp (bất động sản) làm chiếc phao cứu sinh an toàn cuối cùng (chiếm tới 93,5% các khoản vay tại Việt Nam), chặn đứng cơ hội tiếp cận vốn của những doanh nghiệp có phương án kinh doanh tốt nhưng thiếu đất đai.

Các doanh nghiệp SME cũng đối diện rào cản của kênh IPO, niêm yết và trái phiếu. Tiêu chuẩn để lên sàn chứng khoán yêu cầu quy mô vốn điều lệ rất lớn, phải có lãi liên tục, không lỗ lũy kế… Đi kèm với đó là chi phí kiểm toán độc lập, công bố thông tin theo chuẩn quốc tế chặt chẽ và thời gian chuẩn bị kéo dài từ 12 đến 24 tháng… dẫn đến giải pháp huy động vốn trung và dài hạn trên thị trường vốn không thực tế với số đông khối SME.

Tương tự, các điều kiện về phát hành trái phiếu riêng lẻ, yêu cầu bắt buộc phải có xếp hạng tín nhiệm… khiến việc phát hành trái phiếu đối với nhóm này gần như không thực tế, trừ khi doanh nghiệp SME nằm trong hệ sinh thái doanh nghiệp lớn và được bảo lãnh thanh toán.

Ngoài ra là sự lệch pha về khẩu vị của các Quỹ đầu tư nước ngoài: Các quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc quỹ tư nhân ngoại quốc chỉ tìm kiếm các doanh nghiệp công nghệ có khả năng tăng trưởng đột biến hoặc doanh nghiệp lớn đầu ngành để dễ thoái vốn và tìm kiếm lợi nhuận đầu tư, ít ưu tiên khối SME truyền thống. Đồng thời, các dòng vốn tài trợ quốc tế hiện nay đòi hỏi các chứng chỉ đáp ứng tiêu chuẩn Môi trường – Xã hội – Quản trị (ESG) ngày càng cao, trong khi năng lực đáp ứng của nhiều DNNVV còn hạn chế…

Đề xuất nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn, tái chiết khấu chuyên biệt với các NHTM tích cực giải ngân cho DNNVV

Trong văn bản gửi NHNN, Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam đã đưa ra kiến nghị một số nhóm giải pháp hành động thực chất, bám sát năng lực triển khai thực tế của Việt Nam dưới sự điều hành vĩ mô của NHNN, tính linh hoạt của các ngân hàng thương mại, cơ chế huy động vốn ngoài tín dụng ngân hàng truyền thống và năng lực quản trị của doanh nghiệp…

Về phía NHNN, Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam đề xuất nhà điều hành nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn hỗ trợ tín dụng DNNVV theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW. Cụ thể là nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn, tái chiết khấu chuyên biệt dành riêng cho các NHTM tích cực giải ngân cho khối DNNVV, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và xuất khẩu. Lãi suất tái cấp vốn ưu đãi này sẽ được chuyển hóa trực tiếp thành mức giảm lãi suất cho vay thực tế cho nhóm SME.

Đồng thời, kiến nghị NHNN ban hành Khung hướng dẫn kỹ thuật cho vay dựa trên dòng tiền (Cash-flow based lending), hướng dẫn hoặc cẩm nang chung về thẩm định dòng tiền.

Đề xuất NHNN cho phép các NHTM sử dụng lịch sử giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt, dòng tiền qua tài khoản chuyên dùng của doanh nghiệp tại ngân hàng làm căn cứ xếp hạng tín dụng và xem xét cấp tín chấp ngắn hạn mà không bị ràng buộc cứng nhắc bởi chỉ tiêu tỷ lệ tài sản bảo đảm. Việc cấp tín dụng được thực hiện theo quy định pháp luật, khẩu vị rủi ro và thẩm quyền quyết định của từng NHTM.

Ngoài ra, đề xuất NHNN chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính kiến nghị Chính phủ sửa đổi cơ chế hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương theo Nghị định số 34/2018/NĐ-CP theo hướng giảm trùng lặp trong thẩm định, phân định rõ trách nhiệm và cơ chế chia sẻ rủi ro. Có thể xem xét tỷ lệ bảo lãnh từ 70% đến 80% giá trị khoản vay đối với hồ sơ đủ điều kiện, trên cơ sở kết quả thẩm định của NHTM và cơ chế kiểm soát độc lập của Quỹ, đồng thời hạn chế yêu cầu doanh nghiệp bảo đảm tài sản lần thứ hai tại Quỹ.

Chủ trì hỗ trợ các NHTM và các tổ chức tài chính phi ngân hàng trong việc kết nối các nguồn dữ liệu về tín dụng – tài chính – dòng tiền của SME để rút ngắn “khoảng cách” giữa bên vay và bên cho vay.

Về phía các NHTM, Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam kiến nghị phát triển sản phẩm tín dụng dựa trên dữ liệu VietQR / POS cho hộ kinh doanh và DN siêu nhỏ.

Cụ thể, đề xuất NHTM hợp tác trực tiếp với NAPAS, các ví điện tử và các nền tảng công nghệ bán hàng và kinh doanh trực tuyến (như Shopee, GrabFood, TikTok Shop, Agoda, Booking.com, v.v…) để tự động đối soát kết quả doanh thu thanh toán không dùng tiền mặt trong 3-6 tháng của hộ kinh doanh/SME. Dữ liệu này có thể được sử dụng để đánh giá dòng tiền trong việc cấp hạn mức thấu chỉ tín chấp quy mô nhỏ và ngắn hạn ngắn hạn phục vụ vốn lưu động ngay trên ứng dụng ngân hàng, rút ngắn thời gian thẩm định và phê duyệt.

Đồng thời, đề xuất giải pháp cho vay dựa trên hóa đơn điện tử đối soát thuế tự động. Trong bối cảnh Việt Nam đã áp dụng hóa đơn điện tử bắt buộc, các NHTM nghiên cứu xây dựng hệ thống công nghệ kết nối trực tiếp với cổng dữ liệu hóa đơn điện tử của Tổng cục Thuế (dưới sự ủy quyền của DN vay). Ngân hàng thẩm định tính xác thực của hóa đơn đầu ra từ các đối tác lớn, uy tín và thực hiện giải ngân ngay dựa trên quyền đòi nợ từ hóa đơn này, kiểm soát rủi ro bằng cách yêu cầu dòng tiền thanh toán của bên mua chuyển trực tiếp vào tài khoản phong tỏa mở tại ngân hàng cho vay.

Cùng đó là một số kiến nghị với NHTM liên quan đến áp dụng mô hình liên kết 3 bên quản lý kho hàng bảo đảm; đẩy mạnh mô hình Tài trợ Chuỗi cung ứng (Supply Chain Finance); xác lập tỷ trọng vốn tín dụng cụ thể thực chất cho khối SME phù hợp với chiến lược kinh doanh, năng lực vốn và khẩu vị rủi ro của từng ngân hàng; thiết kế các gói tín dụng cho nhóm khách hàng trọng điểm, có ưu tiên cho SME…

Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam cũng đề xuất một số giải pháp khác nhằm đa dạng hóa nguồn vốn phi tín dụng. 

Trong đó bao gồm việc thành lập các “Quỹ tương trợ vốn nội bộ” cấp hiệp hội địa phương để đáp ứng một phần các nhu cầu vốn nóng, vốn ngắn hạn tính bằng ngày của các tiểu thương, làng nghề hoặc doanh nghiệp siêu nhỏ. Các thành viên tự góp vốn, tự giám sát uy tín cộng đồng và hỗ trợ cho vay ngắn hạn dưới 30 ngày với quy trình duyệt trong ngày để loại bỏ triệt để tín dụng đen nông thôn.

Khơi thông nguồn vốn từ các Quỹ tài chính phi ngân hàng; thông qua đề xuất Bộ Tài chính hoàn thiện hành lang pháp lý cho phép các Quỹ hưu trí tự nguyện, Quỹ tín dụng, Quỹ bảo hiểm thương mại và các Quỹ đầu tư ủy thác được đa dạng hóa danh mục đầu tư bằng cách mua chứng chỉ quỹ hỗ trợ SME hoặc đầu tư gián tiếp vào cổ phần doanh nghiệp tư nhân quy mô vừa thông qua các công ty quản lý quỹ chuyên biệt.

Phát triển thị trường Cho thuê tài chính (Financial Leasing), thông qua kiến nghị áp dụng ưu đãi thuế GTGT hoặc thuế TNDN cho các công ty cho thuê tài chính khi đầu tư trang thiết bị, máy móc, phòng thí nghiệm… cho SME thuê lại. Đây là kênh dẫn vốn phi tín dụng hiệu quả, giúp doanh nghiệp trang bị dây chuyền sản xuất mới mà không phải sửdụng bất động sản làm tài sản bảo đảm.

Hay một giải pháp khác là thí điểm Trái phiếu gộp cho nhóm SME (SME Basket Bond). Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam kiến nghị cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu khung pháp lý cho sản phẩm trái phiếu gộp; khuyến khích các NHTM lớn hoặc công ty chứng khoán đứng ra bảo lãnh, thiết kế gói phát hành trái phiếu chung (Basket Bond) gom nhu cầu huy động vốn trung – dài hạn của 5-10 doanh nghiệp SME cùng ngành sản xuất uy tín. Việc gom chung này giúp nâng cao quy mô phát hành, giảm chi phí tuân thủ pháp lý và tăng tính thanh khoản thu hút các nhà đầu tư tổ chức.

Về phía doanh nghiệp vay vốn, Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam cũng kiến nghị một số giải pháp liên quan đến quản trị dòng tiền minh bạch; chuẩn hóa quản trị và kế toán tối giản và hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp đầu chuỗi.

Để chứng minh khả năng trả nợ mà không tốn chi phí kiểm toán độc lập đắt đỏ, các doanh nghiệp SME và hộ kinh doanh cá thể tại Việt Nam cần tăng tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt.. Doanh nghiệp cần đưa toàn bộ dòng doanh thu bán hàng, thanh toán lương, thanh toán nhà cung cấp qua tài khoản thanh toán chính thức mở tại ngân hàng. Dữ liệu dòng tiền luân chuyển liên tục, minh bạch chính là “tài sản thế chấp số” giá trị để ngân hàng phê duyệt tín dụng.

Doanh nghiệp cũng cần bảo đảm sự nhất quán giữa số kế toán, hồ sơ thuế và dữ liệu quản trị nội bộ. Ứng dụng các phần mềm kế toán số, hóa đơn điện tử, quản trị dòng tiền tự động giúp lưu trữ số liệu khoa học, sẵn sàng cung cấp cho ngân hàng đối soát trực tuyến tức có nhu cầu phát sinh vốn vay.

Ngoài ra, chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật để trở thành mắt xích bền vững trong chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn, từ đó tận dụng uy tín của doanh nghiệp đầu chuỗi để tiếp cận các gói tài trợ chuỗi ưu đãi từ NHTM.

Bài viết liên quan

Chiều 28/9/2026, tại Trụ sở Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đã diễn ra Hội thảo khoa học với chủ đề “Phát huy vai trò tiên phong của Đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh trong thời kỳ phát triển mới” do Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phối hợp cùng Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đồng chủ trì tổ chức.  Toàn cảnh Hội thảo khoa học với chủ đề “Phát huy vai trò tiên phong của đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh trong thời kỳ phát triển mới”. Ảnh: Thành Trung.     Tham dự Hội thảo có: Bà Bùi Thị Quỳnh Vân, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy cơ quan, Phó Trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương; bà Nguyễn Thị Tuyến, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ trưởng Cơ quan Đảng ủy Chính phủ, Đại biểu Quốc hội khóa XVI; TS Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương; PGS.TS Nguyễn Trọng Điều, nguyên: Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh – Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Thứ trưởng Bộ Nội vụ; Chủ tịch sáng lập Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam; GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam; ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng đại diện nhiều cơ quan, ban ngành liên quan.  Về phía Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam còn có sự tham dự của ông Nguyễn Quang Huân, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty CP HALCOM Việt Nam; ông Nguyễn Thủ Đô, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam cùng một số Ủy viên Ban Chấp hành TW Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam.  Tư duy rộng, tinh thần mới Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS Nguyễn Đức Hiển nhấn mạnh, thực hiện Chương trình làm việc số 15-CTr/TW, ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Bộ Chính trị đã giao Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng dự thảo Đề án xây dựng Quy định về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh (Đề án).  Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng dự thảo Đề án, cơ quan chủ trì đã hướng dẫn các địa phương tổ chức tổng kết 20 năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW và 08 năm thực hiện Kết luận số 29-KL/TW; nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn, kinh nghiệm quốc tế; đồng thời nhiều lần lấy ý kiến, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Đề án trên cơ sở ý kiến góp ý của các Ban, Bộ, Ngành Trung ương, các Tỉnh ủy, Thành ủy.  Để có thêm luận cứ hoàn thiện dự thảo Đề án, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Phát huy vai trò tiên phong của Đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh trong thời kỳ phát triển mới”.    TS Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Thành Trung.   Theo Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, dự thảo Đề án gửi tới Hội thảo được tiếp thu ý kiến của các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng và đã hoàn thiện một bước. Dự thảo Đề án đã quy định rõ đối với đảng viên khu vực ngoài Nhà nước chỉ phải kê khai những nội dung liên quan trực tiếp đến nguy cơ xung đột lợi ích, tránh việc các Chi bộ yêu cầu chủ doanh nghiệp tư nhân phải kê khai quá nhiều thông tin không cần thiết.  Về đánh giá, xếp loại đảng viên là chủ doanh nghiệp, tiêu chí chủ yếu là việc chấp hành đường lối, pháp luật. Doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ không phải là tiêu chí đánh giá tư cách đảng viên.  Đối với đảng viên trong khu vực công, dự thảo quy định cụ thể các thủ tục, quy trình kê khai, xin phép và chấp thuận khi tham gia hoạt động kinh tế. Dự thảo Đề án tiếp cận theo hướng đảng viên ngoài việc chấp hành Quy định về những điều đảng viên không được làm nói chung, thì trong lĩnh vực kinh tế phải nêu cao tính gương mẫu hơn nữa, áp dụng cho cả khu vực công và ngoài khu vực công. Đồng thời, lượng hóa các hành vi trực tiếp can thiệp, tác động, kiểm soát để vụ lợi.  “Với tinh thần và yêu cầu như vậy, chúng tôi mong muốn được lắng nghe các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà nghiên cứu qua các bài tham luận, chuyên đề đóng góp thêm ý kiến để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Đề án”, TS Nguyễn Đức Hiển nói.  Phát biểu tại Hội thảo, bà Nguyễn Thị Tuyến cho rằng, các quy định liên quan đến đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh tại dự thảo Đề án thể hiện tư duy rất rộng và thể hiện tinh thần mới.  Các quy định không chỉ liên quan đến kinh tế tư nhân hay vấn đề đảng viên được tham gia thành lập doanh nghiệp, phát triển kinh tế tư nhân của mình và gia đình mà còn là đảng viên được đầu tư, được kinh doanh ở tất cả các lĩnh vực mà pháp luật cho phép.   Bà Nguyễn Thị Tuyến, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ trưởng Cơ quan Đảng ủy Chính phủ, Đại biểu Quốc hội khóa XVI phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Thành Trung.  Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải được nhìn nhận là một lực lượng sản xuất tiên tiến Tham luận về “Góc nhìn về lý luận và thực tiễn về quy định Đảng viên làm kinh tế tư nhân: Kỳ vọng về tính đột phá của quy định mới”, PGS.TS Nguyễn Trọng Điều cho rằng, nhìn lại chặng đường 20 năm qua, chúng ta càng thấy rõ giá trị và tầm vóc lịch sử của Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X.  Những con số thực tiễn trong 20 năm qua đã chứng minh thành công to lớn của chủ trương này: Số lượng đảng viên tham gia khu vực kinh tế tư nhân đã tăng hơn 5 lần, từ hơn 35.000 người năm 2006 lên 187.000 người vào tháng 3/2026. Số lượng đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân cũng tăng từ 2.350 người lên 8.600 người. Đặc biệt, lực lượng cán bộ, công chức, sĩ quan lực lượng vũ trang nghỉ hưu, phục viên tham gia làm kinh tế tư nhân đã đóng góp nguồn lực tri thức và kinh nghiệm quản trị rất quan trọng cho xã hội, chiếm hơn 31% tổng số đảng viên làm kinh tế tư nhân.    PGS.TS Nguyễn Trọng Điều, Chủ tịch sáng lập Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Thành Trung.   Cũng theo Chủ tịch sáng lập Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, bối cảnh kinh tế – xã hội hiện nay đã có những chuyển biến mang tính bước ngoặt. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân, cùng các Nghị quyết chiến lược về khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.  Hiện nay, trong hơn 5,6 triệu đảng viên của toàn Đảng, số đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân mới chỉ chiếm khoảng 0,15%. Dư địa để huy động năng lực, trí tuệ và nguồn lực hợp pháp của đảng viên vào phát triển đất nước còn rất lớn. Chính vì vậy, việc ban hành Quy định mới thay thế Quy định số 15-QĐ/TW là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết của thực tiễn.  “Tôi muốn nhấn mạnh rằng: Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải được nhìn nhận là một lực lượng sản xuất tiên tiến trong xã hội. Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Sự tiên phong ấy không chỉ thể hiện ở bản lĩnh chính trị hay đạo đức cách mạng, mà phải được cụ thể hóa bằng năng lực dẫn dắt sự phát triển của lực lượng sản xuất”, PGS.TS Nguyễn Trọng Điều nhấn mạnh.  Chuyển sang tư duy “Mở để phát triển, quản để không lạm dụng” Theo GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, xây dựng quy định về đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh lần này không đơn thuần là việc sửa một quy định mà chúng ta đã ban hành cách đây khoảng 20 năm. Quan trọng hơn là việc ban hành quy định sửa đổi phải mang lại những đột phá phù hợp với những thay đổi về tư duy pháp luật, đáp ứng nhu cầu của giai đoạn phát triển mới là giải phóng được các nguồn lực cho phát triển. Đặc biệt là về nguồn lực con người, về trí tuệ, tài năng, tri thức của những người đảng viên – những người tiên phong, đi đầu.  Đồng thời, những quy định đó phải thu hút được những tinh hoa từ khu vực tư nhân vào hệ thống chính trị để tăng cường các cơ chế kiểm soát quyền lực, tránh xung đột lợi ích và không để lạm dụng quyền lực để phục vụ cho các lợi ích riêng. Cần bỏ tư duy “Không quản được thì cấm”, chuyển sang tư duy “Mở để phát triển và quản để không lạm dụng”.  “Theo tôi cần phải thiết kế một nguyên tắc là không cấm nhưng mà tất cả đều phải quản, chứ không phải không cấm là không quản. Đó là kê khai thông tin, khai báo xung đột lợi ích, kiểm soát sớm, thường xuyên thông qua thông tin dữ liệu.  Không phải là việc chờ đến lúc nào kiểm soát, bất kể một số hoạt động nào kinh doanh, cơ quan kiểm soát phải kiểm soát được ngay thông qua cái thông tin dữ liệu số và phải xử lý thật nghiêm minh nếu không kê khai trung thực”, GS.TS Hoàng Văn Cường đề xuất.  Đóng góp về vấn đề chuyển mạnh từ tư duy “cấp phép” sang “phát huy vai trò tiên phong” được đề cập trong dự thảo Đề án, ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nhấn mạnh: Quy định số 15-QĐ/TW trước đây là một bước đổi mới quan trọng trong việc tháo gỡ rào cản nhận thức đối với đảng viên làm kinh tế tư nhân, tham gia đầu tư, kinh doanh.  Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu đặt ra cao hơn, không chỉ dừng ở việc thừa nhận quyền làm kinh tế hợp pháp, mà cần phát huy đội ngũ đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh trở thành lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, quản trị hiện đại.  “Sự tiên phong này gắn liền với chuẩn mực. Ưu tiên không đồng nghĩa với sự thiên vị hay đặc quyền đặc lợi. Ngược lại, đảng viên tham gia kinh doanh phải đặt lại lợi ích, đứng trên chuẩn mực cao hơn về tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ thuế, liêm chính, trách nhiệm đối với người lao động, môi trường, với cộng đồng”, ông Phòng nói.  Chia sẻ thông tin liên quan đến quy định pháp luật và điều lệ của một số nước về việc công chức, viên chức trong hệ thống chính trị tham gia đầu tư, kinh doanh, Đại tá Nguyễn Mạnh Toàn, Phó Cục trưởng Cục A04, Bộ Công an cho rằng, những kinh nghiệm quốc tế phù hợp đã được dự thảo Đề án tiếp thu. Trong đó có quy định không cấm quyền đầu tư kinh doanh hợp pháp; phân tầng theo quyền lực và nguy cơ xung đột; kiểm soát thực chất thay vì chỉ kiểm soát hình thức.  Đảng viên cần được đánh giá đúng về mức độ cống hiến Chia sẻ về vấn đề đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh, ông Nguyễn Quang Huân khẳng định, quy định mới thay thế Quy định số 15-QĐ/TW là một bước tiến lớn trong tư duy, nhận thức. Quy định mới sẽ khai phá tiềm năng rất lớn về phát triển đảng viên trong khu vực ngoài Nhà nước.    Ông Nguyễn Quang Huân, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam; Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Halcom Việt Nam phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: MH.  Dự thảo Đề án đã xác lập một nguyên tắc mới rất rõ: Khuyến khích, tạo điều kiện để đảng viên phát huy trí tuệ, năng lực, tài sản và nguồn lực hợp pháp; tiên phong khởi nghiệp, đầu tư, kinh doanh, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, làm giàu chính đáng và đóng góp cho đất nước. Đặc biệt, Dự thảo Đề án khẳng định đảng viên được thực hiện các quyền hợp pháp. Việc hạn chế quyền chỉ được đặt ra khi có căn cứ rõ ràng, gắn với địa vị pháp lý, chức vụ, vị trí công tác và nguy cơ xung đột lợi ích. Đây là sự chuyển đổi mạnh về tư duy quản lý.  Ông Huân đề xuất đảng viên trong khu vực tư cần được đánh giá đúng về mức độ cống hiến trong việc xây dựng chính sách, trong vai trò là cầu nối giữa Đảng với người lao động và trong đội ngũ nòng cốt xây dựng khối Đại đoàn kết dân tộc. Ngược lại, đảng viên trong khu vực tư nhân phải được yêu cầu cao hơn nữa về đạo đức, về liêm chính, về trách nhiệm với Nhà nước, với xã hội và môi trường.  Cũng với góc nhìn từ doanh nghiệp tư nhân về vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân, ông Nguyễn Hữu Thức, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Tổng Giám đốc Công ty CP Gốm Chu Đậu (thành viên Tập đoàn BRG) nhìn nhận: Chủ trương cho phép và khuyến khích đảng viên làm kinh tế tư nhân là một bước đột phá mạnh mẽ về tư duy chính trị và phát triển kinh tế cho đất nước.    Ông Nguyễn Hữu Thức, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Tổng Giám đốc Công ty CP Gốm Chu Đậu phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: MH.   “Chủ trương của Đảng về thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân ngày càng rõ ràng, cởi mở. Đảng viên có điều kiện phát huy năng lực, đầu tư sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ và thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Tính kỷ luật, tinh thần trách nhiệm của đảng viên là phẩm chất rất cần cho quản trị doanh nghiệp minh bạch”, ông Thức nói.  Tuy nhiên, cũng theo Tổng Giám đốc Công ty CP Gốm Chu Đậu, đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân vừa phải đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh với tính chất linh hoạt, thường xuyên đi công tác, vừa phải thực hiện đầy đủ các quy định về sinh hoạt và kỷ luật Đảng. Trong khi đó, một số nội dung sinh hoạt, quản lý đảng viên và thủ tục hiện nay chưa phù hợp với đặc thù hoạt động của doanh nghiệp tư nhân, phần nào tạo thêm áp lực về thời gian và công tác quản trị.  Ông Thức kiến nghị, các cơ quan chức năng cần nghiên cứu cơ chế sinh hoạt Đảng linh hoạt về thời gian, phương thức; đơn giản hóa, số hóa thủ tục. Phân định rõ chức năng, quyền hạn giữa tổ chức Đảng và bộ máy quản trị doanh nghiệp; phối hợp nhưng không làm thay chức năng điều hành sản xuất kinh doanh. Cùng với đó, cần tăng cường đối thoại lấy ý kiến trực tiếp từ doanh nghiệp, doanh nhân, người lao động khi xây dựng và hướng dẫn thực hiện các quy định liên quan.  Tổng kết và bế mạc Hội thảo, TS Nguyễn Đức Hiển cho biết, Ban Tổ chức sẽ tiếp thu và chọn lọc các ý kiến vừa được thảo luận để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Đề án và báo cáo các cấp có thẩm quyền trong thời gian sớm nhất.
Chiều 28/9/2026, tại Trụ sở Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đã diễn ra Hội thảo khoa học với chủ đề “Phát huy vai trò tiên phong của Đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh trong thời kỳ phát triển mới” do Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phối hợp cùng Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đồng chủ trì tổ chức. Toàn cảnh Hội thảo khoa học với chủ đề “Phát huy vai trò tiên phong của đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh trong thời kỳ phát triển mới”. Ảnh: Thành Trung. Tham dự Hội thảo có: Bà Bùi Thị Quỳnh Vân, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy cơ quan, Phó Trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương; bà Nguyễn Thị Tuyến, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ trưởng Cơ quan Đảng ủy Chính phủ, Đại biểu Quốc hội khóa XVI; TS Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương; PGS.TS Nguyễn Trọng Điều, nguyên: Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh – Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Thứ trưởng Bộ Nội vụ; Chủ tịch sáng lập Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam; GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam; ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng đại diện nhiều cơ quan, ban ngành liên quan. Về phía Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam còn có sự tham dự của ông Nguyễn Quang Huân, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty CP HALCOM Việt Nam; ông Nguyễn Thủ Đô, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam cùng một số Ủy viên Ban Chấp hành TW Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam. Tư duy rộng, tinh thần mới Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS Nguyễn Đức Hiển nhấn mạnh, thực hiện Chương trình làm việc số 15-CTr/TW, ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Bộ Chính trị đã giao Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng dự thảo Đề án xây dựng Quy định về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh (Đề án). Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng dự thảo Đề án, cơ quan chủ trì đã hướng dẫn các địa phương tổ chức tổng kết 20 năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW và 08 năm thực hiện Kết luận số 29-KL/TW; nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn, kinh nghiệm quốc tế; đồng thời nhiều lần lấy ý kiến, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Đề án trên cơ sở ý kiến góp ý của các Ban, Bộ, Ngành Trung ương, các Tỉnh ủy, Thành ủy. Để có thêm luận cứ hoàn thiện dự thảo Đề án, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Phát huy vai trò tiên phong của Đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh trong thời kỳ phát triển mới”. TS Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Thành Trung. Theo Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, dự thảo Đề án gửi tới Hội thảo được tiếp thu ý kiến của các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng và đã hoàn thiện một bước. Dự thảo Đề án đã quy định rõ đối với đảng viên khu vực ngoài Nhà nước chỉ phải kê khai những nội dung liên quan trực tiếp đến nguy cơ xung đột lợi ích, tránh việc các Chi bộ yêu cầu chủ doanh nghiệp tư nhân phải kê khai quá nhiều thông tin không cần thiết. Về đánh giá, xếp loại đảng viên là chủ doanh nghiệp, tiêu chí chủ yếu là việc chấp hành đường lối, pháp luật. Doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ không phải là tiêu chí đánh giá tư cách đảng viên. Đối với đảng viên trong khu vực công, dự thảo quy định cụ thể các thủ tục, quy trình kê khai, xin phép và chấp thuận khi tham gia hoạt động kinh tế. Dự thảo Đề án tiếp cận theo hướng đảng viên ngoài việc chấp hành Quy định về những điều đảng viên không được làm nói chung, thì trong lĩnh vực kinh tế phải nêu cao tính gương mẫu hơn nữa, áp dụng cho cả khu vực công và ngoài khu vực công. Đồng thời, lượng hóa các hành vi trực tiếp can thiệp, tác động, kiểm soát để vụ lợi. “Với tinh thần và yêu cầu như vậy, chúng tôi mong muốn được lắng nghe các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà nghiên cứu qua các bài tham luận, chuyên đề đóng góp thêm ý kiến để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Đề án”, TS Nguyễn Đức Hiển nói. Phát biểu tại Hội thảo, bà Nguyễn Thị Tuyến cho rằng, các quy định liên quan đến đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh tại dự thảo Đề án thể hiện tư duy rất rộng và thể hiện tinh thần mới. Các quy định không chỉ liên quan đến kinh tế tư nhân hay vấn đề đảng viên được tham gia thành lập doanh nghiệp, phát triển kinh tế tư nhân của mình và gia đình mà còn là đảng viên được đầu tư, được kinh doanh ở tất cả các lĩnh vực mà pháp luật cho phép. Bà Nguyễn Thị Tuyến, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ trưởng Cơ quan Đảng ủy Chính phủ, Đại biểu Quốc hội khóa XVI phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Thành Trung. Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải được nhìn nhận là một lực lượng sản xuất tiên tiến Tham luận về “Góc nhìn về lý luận và thực tiễn về quy định Đảng viên làm kinh tế tư nhân: Kỳ vọng về tính đột phá của quy định mới”, PGS.TS Nguyễn Trọng Điều cho rằng, nhìn lại chặng đường 20 năm qua, chúng ta càng thấy rõ giá trị và tầm vóc lịch sử của Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X. Những con số thực tiễn trong 20 năm qua đã chứng minh thành công to lớn của chủ trương này: Số lượng đảng viên tham gia khu vực kinh tế tư nhân đã tăng hơn 5 lần, từ hơn 35.000 người năm 2006 lên 187.000 người vào tháng 3/2026. Số lượng đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân cũng tăng từ 2.350 người lên 8.600 người. Đặc biệt, lực lượng cán bộ, công chức, sĩ quan lực lượng vũ trang nghỉ hưu, phục viên tham gia làm kinh tế tư nhân đã đóng góp nguồn lực tri thức và kinh nghiệm quản trị rất quan trọng cho xã hội, chiếm hơn 31% tổng số đảng viên làm kinh tế tư nhân. PGS.TS Nguyễn Trọng Điều, Chủ tịch sáng lập Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Thành Trung. Cũng theo Chủ tịch sáng lập Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, bối cảnh kinh tế – xã hội hiện nay đã có những chuyển biến mang tính bước ngoặt. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân, cùng các Nghị quyết chiến lược về khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Hiện nay, trong hơn 5,6 triệu đảng viên của toàn Đảng, số đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân mới chỉ chiếm khoảng 0,15%. Dư địa để huy động năng lực, trí tuệ và nguồn lực hợp pháp của đảng viên vào phát triển đất nước còn rất lớn. Chính vì vậy, việc ban hành Quy định mới thay thế Quy định số 15-QĐ/TW là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết của thực tiễn. “Tôi muốn nhấn mạnh rằng: Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải được nhìn nhận là một lực lượng sản xuất tiên tiến trong xã hội. Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Sự tiên phong ấy không chỉ thể hiện ở bản lĩnh chính trị hay đạo đức cách mạng, mà phải được cụ thể hóa bằng năng lực dẫn dắt sự phát triển của lực lượng sản xuất”, PGS.TS Nguyễn Trọng Điều nhấn mạnh. Chuyển sang tư duy “Mở để phát triển, quản để không lạm dụng” Theo GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, xây dựng quy định về đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh lần này không đơn thuần là việc sửa một quy định mà chúng ta đã ban hành cách đây khoảng 20 năm. Quan trọng hơn là việc ban hành quy định sửa đổi phải mang lại những đột phá phù hợp với những thay đổi về tư duy pháp luật, đáp ứng nhu cầu của giai đoạn phát triển mới là giải phóng được các nguồn lực cho phát triển. Đặc biệt là về nguồn lực con người, về trí tuệ, tài năng, tri thức của những người đảng viên – những người tiên phong, đi đầu. Đồng thời, những quy định đó phải thu hút được những tinh hoa từ khu vực tư nhân vào hệ thống chính trị để tăng cường các cơ chế kiểm soát quyền lực, tránh xung đột lợi ích và không để lạm dụng quyền lực để phục vụ cho các lợi ích riêng. Cần bỏ tư duy “Không quản được thì cấm”, chuyển sang tư duy “Mở để phát triển và quản để không lạm dụng”. “Theo tôi cần phải thiết kế một nguyên tắc là không cấm nhưng mà tất cả đều phải quản, chứ không phải không cấm là không quản. Đó là kê khai thông tin, khai báo xung đột lợi ích, kiểm soát sớm, thường xuyên thông qua thông tin dữ liệu. Không phải là việc chờ đến lúc nào kiểm soát, bất kể một số hoạt động nào kinh doanh, cơ quan kiểm soát phải kiểm soát được ngay thông qua cái thông tin dữ liệu số và phải xử lý thật nghiêm minh nếu không kê khai trung thực”, GS.TS Hoàng Văn Cường đề xuất. Đóng góp về vấn đề chuyển mạnh từ tư duy “cấp phép” sang “phát huy vai trò tiên phong” được đề cập trong dự thảo Đề án, ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nhấn mạnh: Quy định số 15-QĐ/TW trước đây là một bước đổi mới quan trọng trong việc tháo gỡ rào cản nhận thức đối với đảng viên làm kinh tế tư nhân, tham gia đầu tư, kinh doanh. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu đặt ra cao hơn, không chỉ dừng ở việc thừa nhận quyền làm kinh tế hợp pháp, mà cần phát huy đội ngũ đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh trở thành lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, quản trị hiện đại. “Sự tiên phong này gắn liền với chuẩn mực. Ưu tiên không đồng nghĩa với sự thiên vị hay đặc quyền đặc lợi. Ngược lại, đảng viên tham gia kinh doanh phải đặt lại lợi ích, đứng trên chuẩn mực cao hơn về tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ thuế, liêm chính, trách nhiệm đối với người lao động, môi trường, với cộng đồng”, ông Phòng nói. Chia sẻ thông tin liên quan đến quy định pháp luật và điều lệ của một số nước về việc công chức, viên chức trong hệ thống chính trị tham gia đầu tư, kinh doanh, Đại tá Nguyễn Mạnh Toàn, Phó Cục trưởng Cục A04, Bộ Công an cho rằng, những kinh nghiệm quốc tế phù hợp đã được dự thảo Đề án tiếp thu. Trong đó có quy định không cấm quyền đầu tư kinh doanh hợp pháp; phân tầng theo quyền lực và nguy cơ xung đột; kiểm soát thực chất thay vì chỉ kiểm soát hình thức. Đảng viên cần được đánh giá đúng về mức độ cống hiến Chia sẻ về vấn đề đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh, ông Nguyễn Quang Huân khẳng định, quy định mới thay thế Quy định số 15-QĐ/TW là một bước tiến lớn trong tư duy, nhận thức. Quy định mới sẽ khai phá tiềm năng rất lớn về phát triển đảng viên trong khu vực ngoài Nhà nước. Ông Nguyễn Quang Huân, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam; Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Halcom Việt Nam phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: MH. Dự thảo Đề án đã xác lập một nguyên tắc mới rất rõ: Khuyến khích, tạo điều kiện để đảng viên phát huy trí tuệ, năng lực, tài sản và nguồn lực hợp pháp; tiên phong khởi nghiệp, đầu tư, kinh doanh, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, làm giàu chính đáng và đóng góp cho đất nước. Đặc biệt, Dự thảo Đề án khẳng định đảng viên được thực hiện các quyền hợp pháp. Việc hạn chế quyền chỉ được đặt ra khi có căn cứ rõ ràng, gắn với địa vị pháp lý, chức vụ, vị trí công tác và nguy cơ xung đột lợi ích. Đây là sự chuyển đổi mạnh về tư duy quản lý. Ông Huân đề xuất đảng viên trong khu vực tư cần được đánh giá đúng về mức độ cống hiến trong việc xây dựng chính sách, trong vai trò là cầu nối giữa Đảng với người lao động và trong đội ngũ nòng cốt xây dựng khối Đại đoàn kết dân tộc. Ngược lại, đảng viên trong khu vực tư nhân phải được yêu cầu cao hơn nữa về đạo đức, về liêm chính, về trách nhiệm với Nhà nước, với xã hội và môi trường. Cũng với góc nhìn từ doanh nghiệp tư nhân về vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân, ông Nguyễn Hữu Thức, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Tổng Giám đốc Công ty CP Gốm Chu Đậu (thành viên Tập đoàn BRG) nhìn nhận: Chủ trương cho phép và khuyến khích đảng viên làm kinh tế tư nhân là một bước đột phá mạnh mẽ về tư duy chính trị và phát triển kinh tế cho đất nước. Ông Nguyễn Hữu Thức, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Tổng Giám đốc Công ty CP Gốm Chu Đậu phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: MH. “Chủ trương của Đảng về thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân ngày càng rõ ràng, cởi mở. Đảng viên có điều kiện phát huy năng lực, đầu tư sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ và thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Tính kỷ luật, tinh thần trách nhiệm của đảng viên là phẩm chất rất cần cho quản trị doanh nghiệp minh bạch”, ông Thức nói. Tuy nhiên, cũng theo Tổng Giám đốc Công ty CP Gốm Chu Đậu, đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân vừa phải đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh với tính chất linh hoạt, thường xuyên đi công tác, vừa phải thực hiện đầy đủ các quy định về sinh hoạt và kỷ luật Đảng. Trong khi đó, một số nội dung sinh hoạt, quản lý đảng viên và thủ tục hiện nay chưa phù hợp với đặc thù hoạt động của doanh nghiệp tư nhân, phần nào tạo thêm áp lực về thời gian và công tác quản trị. Ông Thức kiến nghị, các cơ quan chức năng cần nghiên cứu cơ chế sinh hoạt Đảng linh hoạt về thời gian, phương thức; đơn giản hóa, số hóa thủ tục. Phân định rõ chức năng, quyền hạn giữa tổ chức Đảng và bộ máy quản trị doanh nghiệp; phối hợp nhưng không làm thay chức năng điều hành sản xuất kinh doanh. Cùng với đó, cần tăng cường đối thoại lấy ý kiến trực tiếp từ doanh nghiệp, doanh nhân, người lao động khi xây dựng và hướng dẫn thực hiện các quy định liên quan. Tổng kết và bế mạc Hội thảo, TS Nguyễn Đức Hiển cho biết, Ban Tổ chức sẽ tiếp thu và chọn lọc các ý kiến vừa được thảo luận để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Đề án và báo cáo các cấp có thẩm quyền trong thời gian sớm nhất.
30/09/2026
Đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh: ‘Mở để phát triển, quản để không lạm dụng’
Đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh: ‘Mở để phát triển, quản để không lạm dụng’
30/09/2026
Bà Nguyễn Thị Nga được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động
Bà Nguyễn Thị Nga được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động
14/09/2026
Ông Nguyễn Trung Chính giữ chức Phó Chủ tịch Thường trực Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam
Ông Nguyễn Trung Chính giữ chức Phó Chủ tịch Thường trực Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam
08/09/2026
Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam bầu tân Chủ tịch và suy tôn Chủ tịch sáng lập Hội
Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam bầu tân Chủ tịch và suy tôn Chủ tịch sáng lập Hội
23/08/2026